Võ sư Đỗ Nguyên Khôi – Người có công xiển dương võ phái Trúc Lâm Thái Hư

Võ sư Đỗ Nguyên Khôi (1945 - 1975 ) (Pháp hiệu : Cư sĩ Hồng Nhật)
Võ sư Đỗ Nguyên Khôi (1945 – 1975 )
(Pháp hiệu : Cư sĩ Hồng Nhật)

Đỗ Nguyên Khôi sinh năm 1945, trong một gia đình quyền quý sang trọng và có truyền thống về võ thuật. Ông nội và cha của ông đều là những võ quan nổi tiếng đương thời.

Ông vốn có tố chất thông minh nhanh nhẹn, nên đã sớm được ông nội trực tiếp truyền thụ võ thuật khi còn chưa nhận biết mặt chữ. Nhờ siêng năng chăm chỉ, ông rất được ông nội thương quý và đặt hết kỳ vọng vào người cháu này. Đến năm 12 tuổi, ông đã tinh thông quyền cước và khá nhiều loại binh khí trong thập bát ban võ nghệ. Năm 17 tuổi, ông được Thiền sư Thích Vĩnh Thạch cho quy y Tam bảo và đặt pháp hiệu là “Hồng Nhật”.

Ông là người biên soạn giáo trình huấn luyện và hệ thống lại tất cả các tài liệu võ thuật của võ phái, sắp xếp theo trình tự từ thấp lên cao, chia ra từng cấp đai trong môn phái mang tính khoa học. Những tài liệu do ông biên soạn đã trở thành đơn giản hơn, dễ hiểu. Ông tổ chức các lớp tập khoảng 20 đến 30 võ sinh thì gọi là “Võ đường”, từ 02 đến 03 Võ đường hợp lại thì gọi là “Võ đoàn”. Từ 2 Võ đoàn hợp lại thì gọi là “Liên đoàn” nhờ cách tổ chức khoa học như thế phong trào phục hưng và phát triển võ phái được nhanh chóng lan rộng.

Một trong những võ đường của võ phái Trúc lâm Thái Hư trước ngày 30/4/1975
Một trong những võ đường của võ phái Trúc lâm Thái Hư trước ngày 30/4/1975

Năm 1965 ông mở võ đường tại Chi Lăng – Đà Lạt thuộc phạm vi trường Võ Bị chỉ trong vòng 06 tháng đã trở thành Võ Đoàn Trần Quốc Toản đầu tiên. Năm 1969, gia đình ông chuyển về Thủ Đức, ông mở võ đường ở chùa Phước Tường Xã Tăng Nhơn Phú.

Chùa Phước Tường - Thủ đức. Nơi Võ sư Đỗ Nguyên Khôi mở võ đường Trúc Lâm Thái Hư đầu tiên tại đất Sài thành
Chùa Phước Tường – Thủ đức. Nơi Võ sư Đỗ Nguyên Khôi mở võ đường Trúc Lâm Thái Hư đầu tiên tại đất Sài thành

Sau đó mở thêm võ đường khác tại Hồ Bơi Anh Đào và một số võ đường tại nhiều điểm khác nhau. Nhanh chóng thành lập Liên Đoàn Trần Hưng Đạo.

Năm 1972, ông lại mở thêm một võ đoàn nữa tại giáo xứ Kim Thượng và giáo xứ Phúc Nhạc tại Gia Kiệm Long Khánh – Đồng Nai và đặt tên là Liên Đoàn Đồng Nai. Số lượng người theo học rất đông. Thỉnh thoảng, ông còn tổ chức cắm trại, vui chơi và thi đua giữa các Võ đoàn và Liên đoàn với nhau để tạo tình đoàn kết gắn bó mật thiết đối với các môn đồ trong võ phái. Chính nhờ những lần mở Võ đường huấn luyện, chương trình huấn luyện của võ phái đã được ông điều chỉnh và hoàn thiện ngày càng tốt hơn.

Ngày xưa, võ thuật Trúc Lâm Thái Hư được truyền dạy từ thầy qua trò bằng sự cảm nhận, tâm phục tuyệt đối mà không cần giải thích, hoặc tùy theo hoàn cảnh thích hợp hoặc cũng có thể nhìn trên góc độ đạo đức của người trò mà quyết định có thu nạp hay không? Còn võ thuật Trúc Lâm Thái Hư do ông lãnh đạo đã có một phương pháp tổ chức hoàn toàn mới, giáo trình huấn luyện hoàn chỉnh: võ thuật và võ đạo được đang xen lẫn nhau. Không phân biệt nam – nữ, sang – hèn….Đào tạo và huấn luyện con người từ cái “không” thành “có”, từ cái “xấu” thành “tốt”… làm cho con người từ bỏ cái “ác” để tìm về với “thiện”. Chính sự khác biệt này phong trào võ thuật do ông dẫn dắt trở nên qui mô, rầm rộ hơn bao giờ hết.

Ông rất giỏi về binh khí, sở đắc trọn vẹn môn Vô Tướng Kiếm pháp của môn phái. Thưở đó, có những người đi xuất ngoại du học, đem võ ngoài về phổ biến ở Miền Nam, thậm chí có người quá khích cười chê võ Việt Nam là lạc hậu, thường chỉ trong vài chiêu ông không những đánh bại họ mà còn đoạt lấy binh khí trong tay họ một cách dễ dàng. Ông thường cho các môn đệ cầm binh khí vây quanh cùng lúc tấn công, chỉ trong thoáng chốc ông đánh rớt tất cả binh khí của họ xuống sân mà không ai bị một vết thương nhỏ nào.

Chính vì tài năng võ thuật và khả năng lãnh đạo võ phái vững vàng như vậy. Nên võ sư Đỗ Nguyên Dụ (Cư sĩ Phổ Pháplúc này tuổi đã cao, vừa là thầy vừa là ông nội của ông) đã an tâm trao quyền Chấp chưởng môn võ phái Trúc Lâm Thái Hư cho ông.

Cuộc chiến giữa hai miền Nam – Bắc trong những năm của thập niên 70 đang bước vào giai đoạn cuối. Chiến sự bùng nổ ác liệt ở khắp nơi, ông được lệnh gọi nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của chính quyền miền Nam. Đầu năm 1975, ông đã mãi mãi nằm xuống tại chiến trường Long Khánh khi vừa tròn 30 tuổi. Đây là sự mất mát to lớn của võ phái Trúc Lâm Thái Hư nói chung và của gia đình ông nói riêng, khi mà tài năng của ông đang thật sự chín mùi.

Người lãnh đạo và tổ chức mọi hoạt động của một võ phái là điều rất cần thiết và không thể thiếu. Vì vậy, Hội đồng võ phái Trúc Lâm Thái hư đã họp và quyết định bầu chọn võ sư Đỗ Nguyên Tùng làm chưởng môn võ phái.