Binh khí võ cổ truyền - Kiếm Pháp

Binh khí võ cổ truyền – Kiếm Pháp

Kiếm là loại binh khí ngắn hai lưỡi, được tôn xưng là “Vua của trăm binh khí có lưỡi”.

Sách sử chép rằng kiếm xuất hiện rất sớm từ thời xa xưa. Trong thời kỳ cổ đại, trừ việc dùng kiếm để chiến đấu và luyện tập võ nghệ, kiếm còn là vật tượng trưng cho quyền lực, địa vị của vua chúa, phân định đẳng cấp lễ nghi trong xã hội. Kiếm được các vị đạo sư, đạo sĩ dùng làm “pháp khí” trong tôn giáo với quan niệm cho rằng kiếm là vật có thể “ẩn thân, hàng yêu, trừ quỷ”. Ngoài ra kiếm cũng còn được coi là một vật trang sức phong nhã, nên văn nhân, học sĩ đeo kiếm để tỏ ra mình là người cao nhã, không dung tục.

Kết cấu của kiếm chia ra làm hai bộ phận chính gồm thân kiếm và cán kiếm. Thân do lưỡi kiếm, sống kiếm, mũi kiếm cấu tạo thành. Cán do vành chắn để bảo vệ tay, tay nắm, đốc kiếm, ngoài ra còn có bao kiếm, tua kiếm. Đo dài của kiếm xưa nay khác nhau không thống nhất. So sánh các vật cổ, người ta thấy rằng kiếm thường khoảng 100 đến 105 cm, trường kiếm dài đến 140 cm. Phong trào võ thuật hiện đại, độ dài của kiếm theo “quy tắc thi đấu võ thuật” qui định khi thi vận động viên cắp ngược kiếm thõng hẳn tay xuống thì mũi kiếm chấm đến vành tai là chuẩn.

Kiếm đi thức đẹp, kiếm tựa gió bay, kiếm như rồng lượn. Tĩnh kiếm như trinh nữ, động kiếm tựa rồng bay, kiếm hoa như phụng vũ.

kiem phap
Dùng kiếm là “Đơn đao khán thủ, Bảo kiếm khán đàm”

Theo võ lý, yếu quyết của người dùng đao, dùng kiếm là “Đơn đao khán thủ, Bảo kiếm khán đàm”. Nghĩa là để đánh giá trình độ của người sử dụng đơn đao, người ta nhìn vào tay không cầm đao xem có phối hợp “ăn ý” với tay cầm đao không. Đối với kiếm, xem tay “kiếm chỉ” trong các kỹ thuật kiếm, tay “kiếm chỉ” có để đúng với đàm kiếm không. Đàm kiếm là phần từ vành chắn trở về sau đốc kiếm.

Sách viết và phân tích về binh khí Võ cổ truyền hiện nay không nhiều. Việc nghiên cứu, tìm hiểu, tập luyện kiếm phải tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài. Kiếm pháp của các môn phái võ cổ truyền có thể tổng hợp theo thứ tự:

– Áp: Đè kiếm lên, ngăn giữ.
– Băng: Vạch kiếm.
– Cách: Gạt kiếm đứng qua trái hoặc phải.
– Đề: Nâng kiếm.
– Điểm: Đâm mũi kiếm.
– Đới: Đưa kiếm thẳng từ dưới lên, thanh kiếm nằm ngang.
– Kích: Đánh, phóng kiếm nhanh tới.
– Khuấy: Ngoáy kiếm, đâm lắc bằng cổ tay xoay tròn trên một điểm nhỏ.
– Loang: Múa hoa.
– Phách: Bổ, chém kiếm thẳng xuống.
– Sí: Giăng kiếm ngang tầm vai như cánh chim.
– Tiễn: Người và kiếm cùng lao tới.
– Tiệt: Khảm, chặt kiếm để chặn phá thế.
– Trừu: Kéo kiếm xuống, cứa, rọc.

Yếu chỉ kiếm thuật:

– Hư lãnh đỉnh khinh: đầu óc trống không, (tư tưởng an nhiên, tự tại).
– Hàm hung bạt bối: co lưng thóp bụng.
– Trầm khiên thuỳ chẩu: trầm vai buông chỏ.
– Tùng eo hoạt uyển: eo hông tự nhiên.
– Khí trầm đan điền: khí xuống đan điền.
– Khinh do tích phát: buông lỏng toàn thân.

Phép cầm kiếm:

Tay cầm kiếm phải thong thả linh hoạt, không nên nắm chặt lấy cán kiếm, vì như thế làm cản trở kỹ thuật của kiếm chiêu. Chỉ cần dùng ngón cái, ngón giữa cùng ngón áp út của bàn tay để nắm lấy cán kiếm, còn ngón trỏ và ngón út nên thong thả, buông lỏng, lòng chưởng cũng để trống không như cầm bút lông vậy.

Kiếm thực là kiếm tập luyện, thi đấu, hay chiến đấu, tùy theo người tập luyện thuận tay nào mà kiếm thực được cầm ở tay phải hoặc tay trái. Kiếm chỉ hay còn gọi là kiếm pháp hay kiếm quyết, là tay không cầm kiếm, hình thức 2 ngón trỏ và ngón giữa áp sát nhau chỉ thẳng, ngón đeo nhẫn và ngón út gập xuống, ngón cái đè lên đầu ngón tay đeo nhẫn. Kiếm chỉ hoa theo đường nét, chiêu thức của kiếm thực, hỗ trợ sự cân bằng, linh động và nghệ thuật trong kiếm pháp.

Cũng có nhiều trường hợp, bài bản yêu cầu một tay cầm kiếm thực, tay còn lại thay vì là kiếm chỉ thì cầm bao kiếm, bao kiếm được làm bằng vật liệu gỗ hoặc kim loại có thể trợ chiến gạt đỡ, phòng thủ khi lâm trận.

Đạo dùng kiếm:

Kiếm là loại binh khí nghệ thuật, tài hoa, ngoài công dụng chiến đấu, còn có kiếm đạo mang tinh thần triết lý Đông phương cao cả, nhất là ý vị của Thiền tông. Đạo dùng kiếm là thiên biến vạn hóa, là bách kiếm hóa nhất, thiên kiếm hóa nhất, vạn kiếm hóa nhất. Nhất điểm phát vạn thù, vạn thù quy nhất điểm. Hiểu được bí quyết trong đó là có thể tự chủ, an nhiên nhàn hạ mà ứng biến.

Tuyệt nghệ trong kiếm pháp là vô chiêu thắng hữu chiêu, nhìn bề ngoài có vẻ như không có gì nhưng bên trong là tuyệt kỹ, bởi vì người và kiếm đã hòa cùng một thể. Đó cũng là điều mà Lão Tử đã dạy: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu. Dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp”.

Kiếm có thần kiếm, người giác ngộ dụng kiếm hòa cùng thần kiếm, chiêu thức kiếm ở trong ý kiếm, lúc ấy đánh đông trúng đông, đánh tây trúng tây, mặt trời, mặt trăng cùng xuất kiếm, cùng hợp nhất thành một chiêu. Đất Trời cùng hợp lại với nhau thành Một. Đến lúc ấy cũng không còn có ta và cũng không còn có kiếm.